SÂU KEO MÙA THU (FAW: Fall Army Worm) 13/07/2019

Tổ  BSCT CN DAKLAK

Sâu keo mùa Thu là “dịch hại mới”, đang gây hại ở một số vùng trồng ngô (bắp) ở các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ An, Thanh Hóa… Và ở Đồng Nai. Sâu gây hại chủ yếu trên họ Hòa Thảo, hại nặng trên ngô từ giai đoạn cây con đến khi tạo trái, năng suất thất thoát có thể lên đến 60%, ngô bị hại sớm, nặng có thể phải gieo sạ lại. Ở điều kiện nhiệt đới, sâu có vòng đời tương đối ngắn khoảng 30 ngày, đẻ nhiều trứng, cắn phá mạnh, phát tán rộng, khả năng kháng thuốc nhanh, khó phòng trừ triệt để…

Sâu keo mùa Thu (Fall Armyworm), tên khoa học: Spodoptera frugiperda (J.E.Smith), thuộc bộ cánh vẩy: Lepidoptera, họ bướm đêm: Noctuidae.

Sâu keo có phổ ký chủ rất rộng, gây hại trên hơn 80 loài cây thực vật, thích cắn phá trên cây họ Hòa thảo như Ngô, lúa, lúa miến, mía và cả trên đậu nành, đậu phộng, khoai lang, cà chua, rau cải, bông vải, được Châu Âu đưa vào danh mục kiểm dịch.

 Đầu có chấm trắng, chữ Y ngược, thân sọc trắng, nâu xen kẽ, mình có gai long, 8 chân

* Đặc tính sinh học:

Sâu keo thuộc nhóm côn trùng có biến thái hoàn toàn. Trong điều kiện nóng - ẩm, vòng đời dài khoảng 30 - 35 ngày, trong năm sinh sản liên tục 4 – 6 lứa. Nhiệt độ thấp, chỉ có 1 – 2 lứa một năm. Vòng đời gồm các giai đoạn:

- Trứng:

Có dạng cầu, đáy phẳng, đường kính khoảng 0.4mm, cao: 0,3 mm, màu trắng ngà, được đẻ vào chiều tối ở mặt dưới lá bên dưới, trứng đẻ thành từng ổ khoảng 100 – 200 trứng, xếp chặt thành 1 hay 2 lớp, được phủ ngoài một lớp tơ trắng lấy từ bụng dưới của bướm cái. Trứng nở sau 3 – 5 ngày. 

Mặt trên ổ trứng phủ một lớp long tơ mịn và mặt dưới

- Sâu non (Ấu trùng):

Có 6 tuổi (đôi khi 5). Sâu mới nở có đầu đen, sâu tuổi 2 – 3, thân màu xanh lá, có sọc trắng điểm các đốm đen. Sâu tuổi 4 – 6, đầu màu nâu đỏ, có đốm trắng, thân nâu đậm xen xanh lá, có sọc trắng, nâu chạy xen kẻ dọc thân, trên thân có nhiều đốm đen, có  gai lông, nếu mật số đông hay thiếu thức ăn, sâu có thể chuyển sang màu đen và ăn thịt lẫn nhau... Đặc điểm nhận dạng  sâu keo mùa Thu là đầu có chữ Y ngược, màu vàng, ở đốt bụng cuối có 4 chấm đen xếp thành hình vuông. Giai đoạn sâu non kéo dài khoảng 14 ngày trong mùa Hè, 30 ngày nếu trời lạnh. Sâu có tính giả chết, cuộn tròn lại khi chạm phải. Gây hại chủ yếu vào chiều tối và có xu hướng di chuyển thành thành từng đàn tìm thức ăn.

- Nhộng:

Giai đoạn nhộng trong đất, vùi sâu khoảng  2 – 8 cm. Nhộng hình bầu dục, dài 1.5 cm có màu nâu đỏ, kéo dài khoảng 8 – 9 ngày trong mùa Hè, 20 – 30 ngày trong mùa Đông.

 

- Thành trùng (Ngài/bướm):

Thành trùng dài khoảng 1,7 cm, có sải cánh dài khoảng 3.8 cm, cánh trước màu xám nâu, có đốm xám, cánh màng trong, màu xám bạc, có viền đậm ở rìa cánh. Thành trùng là bướm đêm,  hoạt động mạnh về đêm khi thời tiết mát, ẩm. Sâu keo có khả năng nhân nhanh số lượng, con cái có thể đẻ đến 2.000 trứng. Giai đoạn thành trùng dài khoảng 10 ngày (đôi khi đến 21 ngày). Thành trùng có khả năng bay xa nhờ gió...

- Gây hại:

Sâu keo mùa Thu gây hại bằng cách ăn lá, thân. Sâu non, mới nở, cắn lá bên dưới, thoạt tiên cạp biểu bì, để lại màng mỏng, sâu ăn lá thành các lổ nhỏ, sâu lớn ăn từ mép lá vào trong và ăn khuyết thành từng hàng dài trên phiến lá. Thường trên một cây, chỉ thấy có 1 (hoặc 2 sâu) do tập tính ăn thịt đồng loại khi sống gần nhau. Sâu tuổi lớn (tuổi 4 – 6), sức ăn phá mạnh hơn sâu tuổi nhỏ, để lại gân, lá, thân tơi tả, rách nát. Thiệt hại do sâu cắn lá khi cây còn nhỏ có thể được đền bù bằng cách ra lá mới, tuy nhiên nếu sâu tuổi lớn chui vào vào loa kèn, ăn đứt đỉnh sinh trưởng, gây chết đọt, thiệt hại sẽ lớn, năng suất có thể mất từ 30 – 60%. Sâu cũng có thể đục vào trái, ăn hạt như sâu đục trái (Helicoverpa sp), tuy nhiên khác sâu đục trái có khuynh hướng đục từ trên xuống xuyên qua lớp râu bắp trước khi ăn hạt ở đầu trái, sâu keo mùa Thu ăn phá bằng cách đục xuyên qua lá bao để ăn hạt bên trong.

- Thiên địch:

Sâu keo mùa Thu có nhiều loài thiên địch ký sinh như: Ong đen kén trắng: Cotesia marginiventris, Ong Chelonus lexanus… Thiên địch ăn mồi như con đuôi kìm (earwig): Labidura, bọ gai Labidura riparia, bọ Orius insidiosus, chim, kiến, gậm nhấm,… Nhiều thiên địch gây bệnh như virus, nấm ký sinh, tuyến trùng, vi khuẩn…

- Sâu keo và giống biến đổi gen (GMO):

Ghi nhận ban đầu (ở Sơn La) cho thấy một vài giống biến đổi gen trên thị trường tương đối ít bị sâu hại hơn các giống ngô lai thông thường.

- Thuốc hóa học và sinh học:

Để phòng trừ hiệu quả sâu keo mùa Thu cần áp dụng biện pháp tổng hợp như sau:

1. Trng sm hay trng ging sm, nếu có th. Thu hoch sm giúp tránh rơi vào cao đim sâu hi vào lúc thu hoch r.

2. Dùng ging kháng, ít sâu hi.

3. Luân canh, xen canh.

4. X dng by đèn/By pheromones phát hin bưm xut hin đ có bin pháp phòng tr sm trng và sâu mi n.

5. Dùng thuc tr sâu: Trong khi ch đi th nghim xác đnh hot cht, liu lưng thích hp, có th tạm thời khuyến cáo mt trong các công thc sau:

a. Aquinphos 40EC: Liu 60 ml/16 lít.

b. Comda gold 5WG: Pha 2 gói 15 gam/16 lít

c. Hn hp Aquinphos 40EC + du SK 99EC: t l tương ng 40 ml + 50 ml/16 lít.

d. Hn hp Comda 5WG + du SK: T l tương ng: 2 gói 15 gam + 50 ml/16 lít.

e. Hn hp Aquinphos + Comda 5WG + du SK: T l 40 ml + 2 gói Comda 5WG + 50 ml du SK 99EC/16 lít.

f. Cây ln, khó phun thuc, có th ri thuc dng ht có tính lưu dn hay xông hơi vào loa kèn như Sago super 3G (nếu điu kin cho phép).

Lưu ý:

- Cn phun đng nưc - thuc khuyến cáo.

- Sâu tui nh, chưa chui vào loa kèn: Phun vào tán lá, chú ý phun mt dưi lá (có trng), sâu tui ln: Phun chp t trên xung đ thuc vào bên trong loa kèn.

- Phun sáng sm hay chiu mát (do sâu thưng ăn phá vào chiu mát), nếu không mưa

- Nên phun khi sâu mi n.

- Nếu có th phun bình máy tt hơn bình bơm tay.

- Nên phun luân phiên các thuc có cách tác đng khác nhau (Tiếp xúc – Ni hp – xông hơi) và gc hóa hc khác nhau đ phòng sâu kháng thuc.

Phòng tr sm, s làm gim s ln phun thuc giai đon sau.

Có thể đặt bẫy đèn, bẫy pheromones để phát hiện sớm bướm, phòng trừ sâu sẽ hiệu quả hơn.

 

Tin cùng loại

Ruồi đục trái xoài ( Oriental fruit fly) có tên khoa học là Bactrocera dorsalis (Hendel), thuộc họ Trypetidae, bộ hai cánh (Diptera). Ruồi đục trái là côn trùng đa thực, gây hại hơn 30 loại cây ăn trái và rau cải. Có nhiều loài ruồi đục trái, trong đó phổ biến nhất là B. dorsalis, B.coresta, B.cucurbitea.

Những loại phân hữu cơ vi sinh nói chung, ngoài việc giúp kích thích hệ vi sinh vật trong đất, còn cung cấp thêm một lượng vi sinh có ích cho đất. Hệ vi sinh vật có lợi càng dồi dào, càng đẩy lùi được những vi sinh vật bất lợi cho đất và cây trồng, giúp hạn chế được những loại bệnh do vi sinh vật có hại gây ra, những loại nấm bệnh gây hại cho rễ. Đây là tác dụng rất “lợi hại” của phân hữu cơ vi sinh mà bà con nông dân nên tận dụng.

Bải bắp là một trong những loại rau được thị trường yêu chuộng và tiêu thụ quanh năm, với số lượng lớn. Vì vậy trồng cải bắp thường cho thu nhập kinh tế cao. Tuy nhiên, sâu bệnh hại là một trong những yếu tố làm tăng chi phí giá thành và gây cản trở sản xuất. Một trong những bệnh hại nguy hiểm, đã gây thiệt hại đáng kể đến sản xuất cải bắp là bệnh thối nhũn.

Để phòng trị ốc bươu vàng cần áp dụng tổng hợp các biện pháp, phải làm liên tục, rộng khắp và làm sớm trước khi mùa vụ bắt đầu. Các biện pháp bao gồm đặt lưới chắn ở cống, bộng dẫn nước, vét rãnh, bắt ốc bằng tay, cắm cọc thu gom trứng, cày bừa kỷ, cày sâu, đưa nước vào ruộng sớm (trước khi sạ) nhử ốc trồi lên rồi diệt, sau sạ không đưa nước vào...

Bọ hung (trưởng thành) và sâu non (Sùng) gây hại bằng cách gậm rễ non và thân ngầm dưới đất, khiến cây sinh trưởng kém, mất cây (hom), đẻ nhánh kém, mất năng suất. Bọ hung và sùng gây hại trên nhiều loại cây trồng có rễ, hom, củ…nằm trong đất như mía, khoai, cao su, cây lâm nghiệp….

Bơ là loại trái cây có thành phần dinh dưỡng có giá trị cao, rất có lợi cho sức khỏe con người, bởi vậy đã được nhiều người ưa chuộng. Trồng bơ cũng đã đem lại những nguồn thu nhập lớn cho nông dân, cũng như đã góp phần làm phong phú thêm cho thương hiệu trái cây nhiệt đới của Việt Nam.

Trên thân và cuống lá: Vết bệnh lúc đầu màu trắng xám sau đó chuyển sang màu nâu nhạt, kích thước vết bệnh nhỏ hình tròn hoặc bầu dục dài, về sau bề mặt vết bệnh sần sùi màu nâu xám hoặc nâu tối. Các vết bệnh có thể liên kết với nhau tạo thành vệt hoặc từng đám trên thân và cuống lá.

Nhện gié hầu như có thể xuất hiện ở mọi giai đoạn sinh trưởng của lúa từ giai đoạn mạ cho đến trổ, chín và gây hại các bộ phận của lúa như bẹ lá, gân lá, thân, cuống bông/gié và cả hạt lúa. Giai đoạn mạ, nhện chủ yếu hại bên ngoài bẹ, nơi tiếp giáp giữa bẹ và thân. Giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng, nhện đục vào trong, sống và gây hại trong bẹ và gân lá.

Sâu Cuốn Lá 23/08/2019

Sâu cuốn lá là dịch hại phổ biến trên lúa, phân bố rộng  khắp các vùng trồng lúa ở Á Châu,  dù vậy sâu cuốn lá vẫn được xem như dịch hại thứ cấp, gây hại không đáng kể. Tại Viêt Nam, những năm gần đây, diện tích lúa nhiễm sâu cuốn lá đứng thứ hai sau rầy nâu, đặc biệt ở những vùng trồng lúa thâm canh, dùng nhiều phân đạm.

Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam, lượng phân bón đổ xuống ruộng đồng Việt Nam trên 20 năm qua lên đến 165.000.000 tấn các loại, trong đó chủ yếu là phân bón hóa học. Thế kỷ 21 là xu thế của nền nông nghiệp hữu cơ, sử dụng phân bón hữu cơ được nhà nước khuyến khích trong tái cơ cấu ngành trồng trọt, nhằm đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt...

  • Trụ sở Chính
  • CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT SÀI GÒN
  • Nguyễn Văn Quỳ, khu phố 1, phường Tân Thuận Đông, quận 7, TP.HCM
  • Mã số thuế: 0300632232
  • Tel: (028) 38 733 295 - 38 732 077
  • Fax: (028) 38 733 033 - 38 733 391
  • Website: www.spchcmc.vn - Email: info@spchcmc.vn
  • Xí nghiệp Bảo vệ Thực vật Sài Gòn
  • XÍ NGHIỆP CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT SÀI GÒN
  • Lô C1-C3 khu Công nghiệp Hiệp Phước, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, TP.HCM
  • Tel: (028) 3873 4089 - Fax: (028) 3873 4090
  • Đơn vị trực thuộc
  • Kết nối chúng tôi